Contact: 08-39101-250

    English (United Kingdom) Tiếng Việt (Vietnamese)

  • VTEM Image Show
  • VTEM Image Show
  • VTEM Image Show

THỂ LOẠI:

Phim "Sông Dài" thuộc thể loại tâm lý - tình cảm.

THỰC HIỆN:
*Giám đốc sản xuất: Vũ Thị Bích Liên.
*Kịch bản: Hạ Thu
*Đạo diễn và biên tập: Trương Dũng
*Chủ nhiệm: Thành Chiến - Trương Trí
*Quay phim: Hồng Sơn - Tiến Thịnh
*Âm nhạc: Ngọc Sơn
*Mỹ thuật: Thanh Liêm
*SX và hậu kỳ: Phúc Trung
*Đơn vị sản xuất: Cty TNHH Sóng Vàng.
THỜI GIAN PHÁT SÓNG:
- Kênh phát sóng: VTV9.
- Thời gian phát sóng: 21h00 thứ 2 đến thứ 6 bắt đầu từ 01/08/2013
- Thời lượng: 45 phút/01 tập, mỗi buổi phát sóng 01 tập
- Số tập: 39 tập.

DIỄN VIÊN:

Vân Trang vai: Lượm
Quý Bình vai: Niễng
Thanh Nam vai: Ông Hai Tuất
Hoàng Trinh vai: Bà Hạnh Hòa
Hà Trí Quang vai: Đức Thịnh
Huỳnh Anh Tuấn vai: Tấn Phát
Tuyết Thu vai: Bà Mười Một
Hạnh Thúy vai: Hai Nhếch
Thu Trang vai: Tú Chi
Uyên Trinh vai: Bà Thảo
Lam Tuyền vai: Bà Ba Dần

Và các diễn viên khác...

NHẠC PHIM:

- Sông Dài:

- Mưa Lòng:

TÓM LƯỢC NỘI DUNG:

Chuyện xãy ra ở một vùng quê miền Tây Nam bộ.

Ông Hai Tất có đứa con gái mù tên Lượm – đặt tên này là vì nó là đứa bé được lượm trên một đụn rơm cuối làng.

Chuyện xãy ra đã hai mươi năm, nhưng người dân xã Vĩnh Trạch vẫn còn nhớ như in. Hôm đó trời mưa như trút nước, bà Hai Nhếch tất tả ôm đứa bé, lạnh ngắt ướt sũng, lã người vì đói, chạy khắp làng trên xóm dưới kêu gào tìm người cho bú thép. May sao lúc đó cô Ba Dần  - em gái ông Hai Tất được ba mẹ rước về sinh con đầu lòng, thấy tội nghiệp thương tình cho bú ké.

Đợi cho đứa bé bú no, thay áo quần ấm áp, ngủ say trong lòng ông Hai Tất, bà Hai Nhếch mới hào hển kể: Chiều nay đi làm cỏ cho ruộng ông Hội Đồng về, lúc đi ngang qua đụn rơm, bà nghe có tiếng con nít khóc. Tò mò, bà bước lại gần xem thử, chợt giật mình nhìn thấy một bé sơ sinh còn đỏ hỏn nằm giửa đụn rơm đang bị một đàn kiến vàng bu kín cả người.

Tất cả người dân trong xã nghe bà kể chuyện đều không nén nổi lòng căm phẩn. Họ cất tiếng lên án người mẹ nhẫn tâm sinh con rồi đem bỏ. Mặc cho mọi người ồn ào lớn tiếng, ông Hai Tất vẫn lặng im thẩn thờ bên chiếc áo của bé sơ sinh ướt đẫm vừa được thay ra. Trên ngực trái chiếc áo có thêu một bông hoa nhỏ màu vàng. Bông hoa nhỏ đến mức nếu không để ý sẽ không nhận biết.

Số phận đứa bé sẽ ra sao? Mọi người cùng nhau bàn tán. Ai cũng cảm thông, cũng tội nghiệp cho số phận hẩm hiu của bé sơ sinh, nhưng không ai đủ can đảm nhận nuôi đứa bé nhìn yếu đuối -èo uột như con mèo con thiếu tháng. Đúng lúc đó ông Hai Tất lên tiếng: Mình sẽ nhận nuôi đứa bé.

Quyết định nhận nuôi con của một thanh niên còn độc thân làm mọi người sững sốt. Mặc cho mẹ và cô Ba Dần hết mực ngăn cản, nhưng ông vẫn quyết nhận đứa bé làm con.

Nuôi chưa được một tuần, ông cảm thấy mắt đứa bé có gì khang khác. Vội đưa nó đi bác sĩ, ông nhận được hung tin: Đứa bé đã bị kiến ăn hư giác mạc, nên không thể nhìn thấy.

Nuôi một đứa bé bình thường đã thiệt thòi, huống hồ chi nó lại là một con bé bị mù. Một lần nữa, ông Hai Tất bị gia đình phản đối, bắt ông đem gởi đứa bé vào Viện mồ côi. Nhưng cho dù ai có nói gì, ông vẫn nhất mực nuôi đứa bé lớn lên bằng tất cả tình yêu của một người cha. Không chỉ thế, ông còn ở vậy nuôi con dù nhiều đám thấy ông hiền lành chất phát, hay lam, hay làm muốn gả con cho.

Mười tám năm, cha mẹ ông lần lượt qua đời. Cô ba Dần theo chồng lên  Sài Gòn  sinh sống. Ông vẫn lầm lũi gà trống nuôi con, nuôi Lượm từng ngày lớn lên.  Do gia đình nghèo khó, ông phải làm rất nhiều việc từ làm cỏ, cắt lúa mướn, phụ hồ, làm thuê vác mướn…Nhưng dù cho có đầu tắt mặt tối với công việc, ông cũng không để cho cô con gái  mù đụng tay vào bất cứ việc nặng việc nhẹ trong nhà. Phần vì quá cưng chiều cô, phần ám ảnh tai nạn đã xãy ra khi cô lên chín tuổi.

Năm đó, vì thương cha phải đi cắt lúa xa nhà đến tối mịt mới về, Lượm đã mày mò xuống bếp nấu cơm. Không thấy đường, Lượm đã để lửa rơm cháy lan qua vách nhà lá, gây nên hỏa hoạn. Nếu không nhờ thằng Niễng chăn trâu gần đó nhìn thấy chạy đến cứu kịp thời, có lẽ Lượm đã chết thiêu cùng với căn nhà.

Lượm không sao, nhưng căn nhà cùng toàn bộ gia tài của hai cha con  bị cháy thành tro. Thằng Niễng sau phút giây làm anh hùng cứu mỹ nhân cũng phải trả giá nặng nề. Vốn đã bị khập khiễng, nay thêm bị lửa táp làm nám đen gương mặt, càng thêm xấu xí.

Từ sau tai nạn đó, ông Hai Tất cấm Lượm xuống bếp cũng như không cho cô mó tay vào bất cứ chuyện gì. Ông cưng cô như vàng ngọc trên đời. Con nhà giàu cũng chưa chắc được hạnh phúc, sung sướng bằng cô.

Sau lần cứu mạng Lượm, Niễng trở thành bạn của cô .Cả hai quấn quýt bên nhau suốt tuổi thơ. Lắm lúc thương Lượm bị cha nhốt trong nhà Niễng lén dắt cô ra đồng chơi. Niễng là người kể cho Lượm biết về sắc màu, về cuộc sống tươi đẹp mà Lượm không nhìn thấy.

Cũng có những lần, đôi bạn mãi chơi không về kịp giờ, bị ông Hai Tất bắt gặp. Những lần như vậy, ông giận dữ hét toáng lên rồi dùng cây rượt đánh Niễng. Ông còn cầm Niễng đến gần Lượm. Nhưng chứng nào tật nấy, ông vừa ra khỏi nhà là Niễng lập tức lẻn vào gặp Lượm.

Thời gian trôi, con bé Lượm đỏ hỏn năm nào đã trổ mã trở thành cô gái xinh đẹp nhất làng. Nhiều trai làng bắt đầu trầm trồ để ý. Chúng thường tranh thủ lúc ông hai vắng nhà đến nhà tán tỉnh cô gái nhỏ. Thậm chí có tên muốn lợi dụng sự khiếm thị của cô để dở trò đồi bại. Nhưng lần nào, Niễng cũng kịp thời ra tay cứu cô thoát.

Quấn quýt một thời gian, như bao nhiêu đôi trai gái khác, Niễng và Lượm bắt đầu yêu nhau.

Một lần bắt gặp đôi trẻ trộm hôn nhau dưới tán cây sau vườn, ông Hai Tất giận dữ làm lớn chuyện. Lần đầu tiên trong đời, Lượm bị ba đánh đòn.

Chuyện ông Hai Tất cấm Lượm yêu có lý do riêng, nhưng theo những người dân làng gần đó thì chuyện này xuất phát từ ân oán riêng tư giữa ông và bà Mười Một -mẹ của Niễng. Nhưng chuyện này đã xãy ra từ lâu lắm rồi, nên chỉ còn nhớ man máng mơ hồ. Dường như một thời ông và bà Mười Một yêu nhau, nghe nói là thắm thiết mặn nồng lắm. Gia đình hai bên cũng đồng lòng, nhưng sau đó vì duyên cớ gì không biết, bà Mười Một đến hủy hôn. Nghe đâu chuyện này có liên quan đến cô cháu gái bà Hội Đồng Chu. Cô ta tên là Hạnh Hòa, rất xinh đẹp và là cô gái duy nhất của cả xứ heo hút này được lên Sài Gòn học.

Nhưng nội tình câu chuyện thế nào, không ai biết được. Chỉ biết là… từ sau khi câu chuyện lùm xùm xãy ra,  Hạnh Hoà bỏ nhà đi. Rồi sau đó, gia đình ông Hội Đồng cũng dời nhà lên thành phố. Tông tích của cô Hạnh  Hòa càng biệt vô âm tín. Tên của cô thỉnh thoảng mới được một vài người nhắc đến trong buổi trà dư tửu hậu.

Ông Hai Tất cấm, nhưng bà Mười Một lại ủng hộ đôi trẻ đến với nhau. Bà hình như rất thích đối đầu với ông, nên chuyện gì ông không thích là bà  ủng hộ ngay. Nhà hai người chỉ cách một đám ruộng, bên này có thể nhìn thấy bên kia, nói lớn tiếng cũng có thể nghe, nên hai ông bà thi nhau bới móc.

Không thể cứ ở nhà canh con gái nên sau ngày cô Ba Dần về giổ ông bà, ông Hai Tất tỏ ý muốn gởi Lượm lên Sài Gòn. Vốn rất có cảm tình với cô gái từng được mình cho bú thép, cô ba Dần đồng ý ngay. Cô có một đứa con trai tên Đức Thịnh, hiện đang học sư phạm, tính tình hiền lành,  nhân hậu. 

Lượm đi chưa được mười ngày, Niễng đã vào ra nhớ nhung thơ thẩn như kẻ mất hồn. Thương con trai, bà Mười Một đồng ý cho nó lên thành phố tìm gặp người thương. Qua thông tin một người bà con của ông Hai Tất, Niễng có được địa chỉ của cô Ba Dần.

Lên thành phố, qua giới thiệu của Trung tâm giới thiệu việc làm, Niễng thành người làm vườn cho ông bà chủ Tấn Phát. Một doanh nghiệp trong ngành xuất nhập khẩu. Vào làm chưa được bao lâu, anh đã phát hiện ra hoàn cảnh đánh thương của vợ chồng ông bà chủ .

Bên ngoài nhìn vào, ai cũng ngỡ ông bà chủ Tấn Phát rất hạnh phúc. Nhưng thật sự dù sống chung một căn nhà, họ đã không mặn nồng chăn gối với nhau hôn bốn năm rồi. Lý do nghe qua cô giúp việc kể lại là vì một lần bà chủ bắt gặp ông chủ ngoại tình. Nhưng cũng theo lời cô giúp việc, ông chủ làm như vậy chỉ để kiếm một đứa con trai nối dõi tông đường. Ông là con trai một, nhưng lấy nhau quá lâu rồi, bà chủ vẫn chưa chịu sinh con.

Người phụ nữ ông chủ đang yêu không phải là cô gái chân dài, hay một cô cave nào. Cô ta là Bảo Trân, một cô gái nghèo phải  một mình bươn chải nuôi cha mẹ già, và một em trai vào đại học. Cô mang thai hơn sáu tháng, siêu âm  biết là con trai nên ông chủ yêu thương hơn châu ngọc trên đời.

Biết được chuyện này, bà chủ Tấn Phát rất tức giận. Tuy bề ngoài vẫn ngon ngọt nói cười, nhưng thâm tâm thầm vạch định một kế hoạch. Bà dần thu tóm hết tài sản của chồng. Vốn tin vợ, và bận rộn chuẩn bị cho đứa con sắp chào đời, ông chủ không để ý. Đến khi nhận ra, Công ty chỉ còn là cái vỏ không ruột đầy ấp nợ nần.

Đến lúc này. Bà chủ mới ra tối hậu thư. Nếu cô nhân tình kia phá bỏ đứa con thì bà sẽ trả lại cho ông toàn bộ gia sản. Bằng không, ông sẽ phải ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng.

Hiểu được tâm địa độc ác của con dâu, ba mẹ Tấn Phát đồng lòng với cách giải quyết của con trai. Họ đồng ý bán căn biệt thự đang ở, dọn vế căn nhà nhỏ của Bảo Trân để lấy tiền trả nợ. Tấn Phát li dị vợ, trở thành một nhân viên bình thường với mức lương vừa phải. Đau nhất cho bà chủ là ba mẹ chồng đều rất yêu thương và quý cô vợ mới của Tấn Phát.

Một mình sống giữa căn biệt thự rộng thênh thang, Hạnh Hòa – phải bà chủ Tấn Phát mới chính là Hạnh Hòa – cô con gái duy nhất của ông bà Hội Đồng Chu, cảm thấy cô đơn. Đôi lúc cảm thấy chạnh lòng, những lúc như vậy bà vẫn thường kể cho Niễng nghe về đứa con gái đã thất lạc của mình.

Bà vẫn hay kể mình có một đứa con gái mười chin tuổi. Con bé rất đẹp, có đôi mắt to tròn đen láy, có bờ mi cong vút, với gương mặt trái xoan trắng mịn màng. Nhưng bà không nói rõ đứa con gái của mình hiện sống ở đâu, làm gì.

Câu chuyện của bà, Niễng không quan tâm đến. Anh chỉ biết chiều chiều xong việc, sửa soạn cho thật đẹp lẻn đến nhà cô Ba Dần thăm Lượm cho đở nhớ. Không được cô bà Dần cho vào, anh chỉ biết đứng thập thò chờ trước cửa đứng chờ.

Sự kiên trì của anh đã làm Đức Thịnh - con cô ba đồng cảm. Cùng trong lứa tuổi vào yêu, và thường được nghe Lượm kể kể Niễng – người nông dân ít học nhưng giàu lòng nhân hậu, từng hy sinh mạng sống để cứu mình, nên bất chấp lời cô ba căn dặn, anh thường lén giúp hai người đến với nhau trong những chiều hò hẹn.

Đức Thịnh còn giúp Lượm, thường xuyên chở cô đến tận ngôi biệt thự của bà Tấn Phát thăm Niễng. Ở đây cố được gặp bà chủ và nói chuyện với bà. Người dưng nước lã, không hiểu sao bà lại cảm thấy mến cô gái mù này quá. Có lần hỏi thăm thân phận, nghe cô bảo mình là người dân xã Vĩnh Trạch, bà không khỏi giật mình. Dường như bà đang nhớ lại một lỗi lầm trong quá khứ.

Nhớ con gái, Ông Hai Tất lần dò lên nhà cô Ba Dần để thăm. Tình cờ đúng lúc Lượm được Đức Thịnh chở đến nhà bà Tấn Phát. Ông tức giận bắt anh phải lập tức đưa mình đến để bắt Lượm về. Ở đây, ông gặp lại Hạnh Hòa. Cả hai nhìn nhau mừng mừng tuổi tuổi. Cả một thời quá khứ  hiện vế đầy ấp.

Hai mươi năm trước, Hạnh Hòa và ông từng có một thời yêu nhau sâu đậm. Cả hai đã có rất nhiều kỷ niệm đẹp với miền sông nước quê hương. Học xong lớp mười hai, Hạnh Hòa được ông bà Hội Đồng cho lên Sài Gòn học tiếp. Ở môi trường mới, tiếp xúc nhiều thanh niên thị thành, đẹp trai văn minh lịch sự. Cô dần quên mất ông Hai Tất để yêu Duy Minh. Một công tử đẹp trai giàu có.  Không cần để ý đến cảm nhận của chàng trai nhà quê chân chất thật thà, cô lạnh lùng tàn nhẫn nói lời chia tay. Lần đó, ông Hai Tất vì buồn mà bệnh hết một tuần. May có cô Mười Một cạnh nhà, ân cần sang nhà săn sóc.

Hài lòng cô gái quê siêng năng giỏi dắn, bà Năm – mẹ ông Hai Tất ngỏ ý muốn cưới cô  Mười Một về làm vợ cho ông. Giận đời, chán nản và để làm mẹ vui lòng, ông Hai  Tất gật đầu đồng ý dù trong lòng vẫn còn yêu Hạnh Hòa nhiều lắm. Biết rõ điều này, nhưng vì yêu và nghĩ suy đơn giản, cô Mười Một vui vẻ hân hoan chờ ngày mặc áo cô dâu.

Chỉ còn không quá một tuần nữa là đền ngày đám cưới, thì Hạnh Hòa bất ngờ đến gặp ông Hai Tất khóc lóc cầu xin. Cô kể Duy Minh là gã sở khanh đốn mạc. Sau khi chiếm đoạt được trinh tiết của cô rôi, hắn liền quất ngựa truy phong. Điều tệ hại nhất là hắn đã để lại trong bụng cô một đứa con vừa được tượng hình.

Nghe chuyện, ông Hai Tất vô cùng căm phẩn. Để giúp Hạnh Hòa  thoát khỏi cơn thịnh nộ của ông bà Hội Đồng, ông đưa cô đến một vùng ven   thuê một căn nhà ở tạm. Ngày ngày thường xuyên đến thăm nom, chăm sóc cô cẩn thận chờ ngày sinh nở.

Tình củ không rủ cũng đến, ông Hai Tất và Hạnh Hòa nối lại tình xưa và bị cô Mười Một tình cờ bắt gặp. Nổi ghen hờn và tự ái khiến cô đem cau trầu và lể vật của nhà ông Hai dạm hỏi trả lại cùng với lới cương quyết từ hôn. Mọi người trong làng ai cũng trách cô, ba mẹ cô giận không thèm nhìn đến mặt cô, nhưng cô quyết không nòi ra lý do khiến mình từ hôn cùng ông Hai Tất. Cả bản thân ông cũng không hiểu vì sao cô từ chối mình, nên rất  khó chịu. Cô và ông Hai Tất không nhìn mặt nhau từ đó.

Sống cùng ông Hai Tất một thời gian, Hạnh Hòa lại bắt đầu nghe nhớ Sài Gòn hào hoa tráng lệ. Nhất là khi cô gặp lại tên Duy Minh – gã đểu cáng nói rằng, nếu cô chịu bỏ đứa con, thì gã sẽ cưới lại cô.

Nghe lời gã, Hạnh Hòa đến bệnh viện tìm cách hủy đứa con trong bụng. Nhưng lúc này thai đã quá lớn nên không thể nào phá được. Cô đành phải chấp nhận sinh nó ra.

Ngày cô sinh con, ông Hai Tất lo như thể đứa con của cô là con ruột của mình. Đứa bé sinh ra, Hạnh Hòa vì mệt thiếp đi, ông là người đầu tiên bế nó trên tay. Con bé đẹp như thiên thần, đôi mắt to tròn đen láy.

Ông còn tự tay đi mua cho nó từng chiếc áo, từng tấm tả. Nhà nghèo, ông chỉ mua áo cho con bằng vải xấu. Về nhà, thấy tội nghiệp con gái, ông vụng về cầm kim điệu đàng thêu lên ngực áo con bông hoa nhỏ màu vàng.

Một ngày đến thăm Hạnh Hòa, ông Hai Tất ngỡ ngàng trước căn nhà khóa cửa lạnh tanh. Hỏi mới biết cô đã được một thanh niên đến đón đi trên chiếc xe hơi sang trọng. Ông ngậm ngùi thất thiểu trở về làng với nổi buồn trĩu nặng. Tâm sự này sống để lòng, chết mang theo, ông biết mình không thể cùng ai bày tỏ.

Một hôm, bà hai Nhếch đi ruộng về, nhặt được một bé gái bị kiến vàng bu đỏ ở đụng rơm. Vừa nhìn qua đứa bé, nhìn vào cái bông hoa vàng nhỏ xíu được thêu trên ngực áo, ông đã nhận ra nó chính là con của Hạnh Hòa. Người mẹ vì đi theo tiếng gọi của tình yêu đã nhẫn tâm vứt bỏ con mình không thương tiếc. Ông nhận nó làm con và nuôi đến bây giờ.

 Còn bà Mười Một, một hôm đi lên Thị trấn mua thuốc cho ba mẹ, tình cờ nhìn thấy một thằng nhóc đen nhẽm tay cầm thau đi xin ăn. Sau khi hỏi và biết nó bị cha mẹ bỏ rơi, hiện đang sống với một gã du côn. Phải ngày ngày đi ăn xin đem tiền về cho gã, nếu không đủ số sẽ bị đòn đau, bà cảm thương dắt nó về nhà làm con nuôi. Phần vì thương đứa bé, phần vì muốn chống lại ông Hai Tất, nên bà đặt tên con là thằng Niễng.

Gặp lại người xưa, bà Hạnh Hòa òa khóc. Bà kể cho ông nghe hết câu chuyện của mình.

Năm đó, vì nghe lời đường mật của tên Duy Minh, bà vứt bỏ đứa con lên Sài Gòn sống với hắn.  Những tưởng sau thồi gian dài  trát tán, hắn đã tu tâm dưỡng tánh biết thương vợ thương con. Không ngờ gã vẫn chứng nào tật nấy. Vẫn háo sắc trăng hoa và vô trách nhiệm. Mỗi lần nghe cô báo tin mang thai gã đều lạnh lùng bắt cô phá bỏ. Trong khỏang thời gian chưa đầy hai năm chung sống,  Hạnh Hòa đã phải đến bệnh viện giết bỏ đến ba đứa con. Sự phá thai bừa bãi này đã đưa cô đến một hậu quả vô cùng khủng khiếp. Đó là sự vô sinh. Trong suốt cuộc đời này, cô sẽ không thể có con được nữa.

Đến năm thứ ba, Duy Minh chính thức bỏ rơi cô để chạy theo tiếng gọi ái tình khác.

 Một thân một mình giữa chốn phồn hoa, Hạnh Hòa nghe mệt mõi, cô quay về đoàn tựu với gia đình. Để nhận được lời tha thứ từ miệng của ba, Hạnh Hòa phải nghe lời ông lấy Tấn Phát, con trai một người bạn làm chồng.

Bề ngoài Tấn Phát không được đẹp trai, ăn nói lại cụt ngũn, không biết galan cùng phái đẹp, nên gần anh rất chán. Nhưng vì muốn được ba tha thứ, Hạnh Hòa đồng ý nhận lời về làm vợ Tấn Phát.

Tấn Phát là một chàng trai hiền lành, cần mẫn. Anh không biết lãng mạn, galan cùng phái nữ, nhưng rất biết nghe lời vợ. Hạnh Hòa muốn gì là anh sẳn sàng đáp ứng ngay. Nhờ vậy mà cuộc sống vợ chồng của hai người kéo dài được hơn mười năm hạnh phúc, cho dù Hạnh Hòa có quá đáng lấn lướt chồng lẫn cha mẹ chồng.

Mười năm chung sống, ngoài nổi khát khao có một đứa con , Tấn Phát   vẫn thấy lòng trống vắng.Cho đến khi gặp Bảo Trân.Tấn Phát mới biết thế  nào là tình yêu thực sự.

Bị cha mẹ ép cưới vợ vì câu môn đăng hộ đối. Mười năm bị vợ xem thường hắt hủi, bỗng được một cô gái dịu dàng, chăm sóc và thấu hiểu. Tấn Phát mới biết cảm xúc khi yêu thật tuyệt. Nói dối Bảo Trân là mình đã li dị vợ, ông tìm cách cùng cô đi đến tình yêu.

Không lâu sau, cô mang thai và bị Hạnh Hòa phát hiện làm ầm ỉ. Không chịu nổi người vợ quá cực đoan,Tấn Phát đồng ý bỏ tất cả để được Hạnh Hòa đồng ý ký vào đơn li dị.

Mười năm li dị chồng, Hạnh Hòa có tất cả những gì người đời ham muốn. Địa vị, tiền tài, sắc đẹp.  Nhưng bà chỉ thiếu một thứ rất đổi đời thường. Mái ấm gia đình, hạnh phúc được làm mẹ, làm vợ.

Sau những giây phút ăn chơi với đám bạn trở về nhà, với thân thể mệt nhoài, rời rã. Hạnh Hòa chợt nghe thèm một vòng tay, một  giọng cười trẻ thơ trong trẻo. Trong nổi ao ước khát khao được yêu thương, bà chạnh lòng chợt nhớ đến đứa con gái năm nào mình vứt bỏ trong đụn rơm. Nhớ đến tình yêu chân chất thật thà của anh nông dân tay lấm chân bùn.

            Nghe lời bà tâm sự, thoạt đầu ông Hai Tất không tin. Nổi đau năm nào bị bỏ rơi bất ngờ khiến ông giận đến mức không muốn nói chuyện với bà. Sợ để Lượm lại trên thành phố sớm muộn gì cũng lộ thân phận, sợ bà giành lại đứa con, ông vội vã đưa Lượm về quê. Niễng cũng theo về.

            Hận ông hai năm xưa đã lừa dối, nhưng bà Mười Một lại rất đỗi thương con trai. Không đành lòng nhìn nó vào ra than ngắn thở dài, tương tư héo mòn sầu úa. Bà hạ mình sang nhà gặp ông hai hỏi cưới Lượm cho Niễng. Ông không đồng ý. Bà tức giận nói huỵch toẹt chuyện năm xưa, rằng bà đã biết chuyện ông cùng con gái ông Hội Đồng tằn tịu đưa nhau trốn ở riêng. Cho đến bây giờ bà vẫn hiểu lầm, Lượm là con ruột của ông Hai và bà Hạnh Hòa. Bà còn đe dọa nêu ông không đồng ý gã Lượm cho thằng Niễng, bà sẽ công bố chuyện này cho mọi người cùng biết.

Sợ chuyện lùm xùm đồn đến tai Hạnh Hòa, ông đồng ý gã Lượm cho Niễng nhưng với một điều kiện. Thằng Niễng phải làm rể ba năm trước khi cưới để ông thử thách. Chừng nào ông cảm thấy tin tưởng thì mới cho chúng cưới nhau.

Điều kiện lạ lung và khắc nghiệt, nhưng Niễng lại mừng như bắt được vàng. Chỉ cần được ở gần bên Lượm là cực khổ bao nhiêu anh cũng chịu được.

Đám hỏi được tổ chức gọn gàng nhưng ấm cúng trong sự chứng kiến của mọi người trong làng. Ai cũng cảm động ứa nước mắt trước đôi cô dâu chú rễ khác thường này.

Đắm hỏi xong, sáng tinh mơ Niễng đã có mặt trước cửa nhà ông Hai sẳn sàng làm rễ. Để thử thách anh, ông bắt anh phải làm nhiều chuyện nặng nhọc lại luôn miệng chửi mắng. Thậm chí còn dùng roi  tre đánh đập.

Thương anh, Lượm chỉ biết khóc thầm. Chờ mỗi khi ông hở ra là cô chạy đến bên Niễng ân cần thăm hỏi, và săn sóc cho anh. Ông Hai không thấy thì thôi, thấy là lập tức cách ngăn , mắng nhiếc.

Bên kia nhìn sang, thấy con trai bị đày đọa, bà Mười Một rất đau lòng. Nhiều lần bà muốn sang can thiệp, nhưng Niễng không cho,. Anh năn nĩ mẹ, thương con hãy để con chứng tỏ tình yêu của mình với vợ. Anh tin rằng một ngày không xa, ông hai sẽ hiểu mà chấp nhận anh . Những lời này vô tình lọt vào tai ông Hai, ông bắt đầu có cái nhìn khác hơn về Niễng.

Thật ra ông không phải người độc ác, hay khắc khe gì. Ông chỉ vì quá thương Lượm, nên không muốn cuộc đời con phải khổ. Theo suy nghĩ đơn giản của ông, một cô gái bình thường lấy chồng sinh con đã khó, huống gì Lượm của ông phải sống trong tâm tối đui mù.

Nỗi khát khao tìm lại đứa con đã đưa Hạnh Hòa trở về Vĩnh Trạch. Không quen biết ai, bà  chỉ biết đến ở nhờ nhà ông Hai Tất. Không thể từ chối, nhưng ông Hai lo lắng cuống cuồng, cứ sợ bà nhận ra Lượm là đứa con gái của mình.

Sự thật là sự thật, giấy không thể gói được lữa. Cuối cùng. Hạnh Hòa cũng tìm ra tông tích con gái qua lời kể của bà Hai Nhếch, người đã nhặt đứa bé trong đụn rơm. Biết ông Hai đã cố tình giấu mình, bà buông lời trách móc. Ông Hai tức giận trả đòn. Ông không cho bà nhận con bởi bà là người mẹ nhẫn tâm, độc ác. Bỏ con cũng không biết tìm một nơi khô ráo sạch sẽ, mà nỡ bỏ nó trong đụn rơm cho kiến cắn suýt mất mạng. Ông còn nói đôi mắt của Lượm bị mù là do năm xưa bị kiến cắn hư giác mạc.

Nghe điều này, bà Hạnh Hòa nghe lương tâm cắn rứt. Bà quỷ lạy ông cho mình được nhận con, bà sẽ làm đủ mọi cách để bù đắp lại những thiệt thòi của con. Ộng hai nói mình không có quyền quyết định. Có nhận lại mẹ hay không là tự ý Lượm.

Không như ông Hai và bà Hạnh Hòa suy nghĩ. Nghe xong câu chuyện, Lượm chẵng những không trách mẹ lời nào mà còn ôm chầm lấy bà mừng rỡ. Sự hiếu thảo, vị tha của cô đã khiến bà Hạnh Hòa tủi hổ. Bà xin phép ông cho mình được đưa Lượm về nhà chửa trị. Bà còn nói sẽ cho Lượm sang nước ngoài chửa lành đôi mắt. Ông hai đồng ý trong sự  lo lắng tột cùng của Niễng. Anh sợ sau khi chửa lành mắt, nhìn thấy được, Lượm sẽ chê gương mắt xấu xí của mình.

Nghe tin được chửa lành đôi mắt, có thể nhìn thấy, Lượm rất vui. Nhưng sau khi nghe bà Mười Một kể cho biết tâm trạng lo lắng của Niễng, Cô thôi không chịu đi chửa bệnh. Vì tương lai, vì hạnh phúc của người thương, Niễng thấy mình không nên ích kỹ. Cuối cùng, chính Niễng là người khuyên Lượm đi chửa bệnh.

Ngày chia tay, đôi bạn bịn rịn bên nhau không nở rời xa. Tỉnh cảm chân thành của Niễng khiến ông Hai Tất chạnh lòng rơi nước mắt. Tự nhiên ông nghĩ đến chuyện của mình năm xưa. Ông sợ rồi Lượm cũng như mẹ nó ngày xưa, vì đam mê vật chất phồn hoa mà bỏ quên tình cảm của Niễng. Ông động lòng thương Niễng nhiều hơn.

Lượm được bà Hạnh Hòa đưa sang Nhật ghép giác mạc. Niễng ngày ngày vẫn sang nhà ông hai chăm chỉ làm rễ như ngày còn Lượm. Bây giờ mới hiểu hết tấm lòng của Niễng, ông bắt đầu có cảm tình.

Bà Mười Một sau từng ấy năm hiểu lầm, giờ mới biết ông là người cao thượng nên …tình củ bắt đầu hồi sinh. Lấy cớ sang nhà thăm con, bà khi nấu món này, món khác giúp ông tẩm bổ, xa gần nhắc lại chuyện năm xưa. Nhưng ông Hai vẫn vô tâm không để ý, nhiều lần làm bà nổi giận bỏ ra về.

Lượm chửa lành đôi mắt, trở thành cô gái vô cùng xinh đẹp. Không muốn trả cô về với ông Hai Tất, càng không muốn gã cô con gái sắc nước hương trời của mình cho gã nhà quê thọt chân mặt nám xấu xí, Hạnh Hòa lấy cớ bác sĩ bảo mắt Lượm còn yếu, cần phải dưỡng thương, bà đem Lượm về nhà giấu kín.

Một mặt báo với ông Hai là Lượm chửa bệnh chưa về. Một mặt tìm gia sư đến nhà dạy Lượm học chữ để nâng cao trình độ.

Tình cờ Đức Thịnh – con trai cô ba Dần được bà thuê đến dạy kèm. Trước đây anh đã biết Lượm xinh đẹp, nhưng không ngờ khi cô chữa lành mắt lại đẹp thế này. Nên dù hiểu rỏ chuyện tình của Lượm và Niễng, Đức Thịnh cũng không ngăn được trái tim mình đừng bồi hồi xúc cảm.

Để có thể cắt đứt hoàn toàn tình cảm của Lượm với Niễng, bà hạnh Hòa dàn dựng một màn kịch nhỏ báo tin Niễng đã chết vì bệnh nặng. Vốn tin người và suy nghĩ đơn giản, mẹ chẳng có lý do gì để gạt mình, nên Lượm tin ngay. Cô sầu khổ, đau đớn những tưởng có thể chết đi. Nếu không có Đức Thịnh ngày đêm chia sẽ, giúp đở, có lẽ cô đã không vượt qua khỏi cú sốc này.

Bản thân Đức Thịnh biết rõ Niễng còn sống, nhưng vì quá yêu Lượm nên đồng lòng cùng hà Hạnh Hòa giấu kín. Anh còn về năn nĩ mẹ đến gặp cậu Hai Tất ủng hộ chuyện tình của mình với Lượm. Thương con, nên dù biết chuyện mình làm trái với đạo lý, lương tâm, cô ba Dần cũng về gặp ông Hai Tất, năn nĩ ông tác hợp cho Đức Thịnh và Lượm.

Chuyện này đặt ông Hai vào một hoàn cảnh vô cùng khó xữ. So sánh hình thức, địa vị, và khả năng đem hạnh phúc đến cho Lượm, Niễng đã không sánh được rồi. Huống chi Đức Thịnh lại là đứa cháu duy nhất mà ông hết mực yêu thương. Trong lúc chưa thể trả lời, ông chỉ biết im lặng thở dài.

Qua thông tin của cô gái giúp việc nhà bà Hạnh Hòa, Niễng biết được tin Lượm đã chửa lành mắt và trở về nước. Không kịp báo tim cho ông Hai Tất, anh mừng rỡ khăn gói lên thành phố.

Nép mình sau cánh cửa bồi hồi chờ phút giây đoàn tựu, Niễng cảm thấy bất ngờ hụt hẫng khi nhìn thấy Lượm xinh tươi với áo quần sang trọng, thân mật cặp tay Đức Thịnh dạo hoa viên.

Trộm nghe cuộc đối thoại của hai người, Niễng càng ngỡ ngàng, đau đớn hơn khi nghe Đức Thịnh tỏ tình cùng Lượm. Do ngỡ là Niễng đã chết, Lượm đồng ý nhận lời yêu.

Đến gặp Đức Thịnh, nghe anh ta  phân tích, Niễng bắt đầu mặc cảm về hình thức xấu xí và thân phận nông dân nghèo khổ của  mình. Anh không dám đến gặp Lượm vì sợ một tiếng thét kinh hoàng sợ hãi của cô . Để thỏa niềm nhung nhớ, để ngày ngày được nhìn thấy Lượm, anh xin vào bà Hạnh Hòa làm kẻ giử vườn, tưới cây. Bà Hạnh Hòa đồng ý với một điều kiện, để Lượm không thể nhận ra, anh phải giả vờ bị câm. Thương Lượm, Niễng đồng ý.

Không nhận ra kẻ chăm sóc cây kiểng trong vườn là người chồng đã hứa hôn, Lượm vô tư không để ý đến. Ngày ngày hồn nhiên vào ra thân mật với Đức Thịnh mà không biết mình đã vô tình bóp nát trái tim yêu của Niễng.

Vẽ điển trai, sự hào hoa lịch thiệp của Đức Thịnh đã chiếm được cảm tình của Lượm. Nhưng bà Hạnh Hòa tỏ ý chẳng bằng lòng cho Lượm có tình cảm với anh. Không chỉ thế bà còn cấm cô không được  quan hệ  tình cảm với bất kỳ thanh niên nào. Dù vẻ đẹp rực rỡ của cô khiến nhiều chàng trai chết mê chết mệt.

Sự ích kỷ của một người mẹ vừa tim được đứa con gái cưng, giống như sự ích kỷ của một người vừa tìm lại được báu vật sau bao ngày đánh mất khiến cho bà Hạnh Hòa  cứ khư khư ôm chặt nó vào lòng, không muốn chia sẽ nó với ai.

Nhằm cắt đứt quan hệ tình cảm giửa Đức Thịnh và Lượm, bà thôi không thuê anh đến làm gia sư nữa. Bà còn cấm cửa Lượm- giam lỏng cô như một tù nhân.  Khiến cô cả ngày buồn ủ ê cơm không ăn, nước không uống,

Nhìn Lượm tiều tụy vì tương tư, nên dù rất ghen, rất đau khổ, Niễng vẫn tìm mọi cách đưa tin cho Đức Thịnh. Mỗi lúc bà Hạnh Hòa có dịp ra khỏi nhà, là anh thông báo cho Đức Thịnh đến gặp Lượm ngay.

Ông Hai Tất sau thời gian dài suy nghĩ đã có quyết định. Ông đến gặp cô Ba Dần và Đức Thịnh tỏ rõ chính kiến của mình. Rằng ông sẽ không can thiệp vào chuyện tình cảm của Lượm. Chọn Đức Thịnh hay Niễng là quyền của cá nhân cô.

Ông đến tìm Niễng và khuyên anh hãy nói rõ sự thật cho Lượm biết. Nhưng Niễng từ chối. Anh không muốn làm cuộc sống của Lượm thêm một lần xáo trộn. Cô đã nghĩ anh chết thì cứ để cô tin vào điều đó mà yên tâm hạnh phúc bên người chồng xứng lứa vừa đôi. Phần anh xấu xí tật nguyền, sẽ không thể nào đem lại hạnh phúc cho Lượm được. Ông Hai không đồng ý với anh,  nhưng Niễng bảo, nếu ông nói ra anh sẽ bỏ nhà đi biệt xứ. Trước quyết tâm sắc đá của anh, ông hai đành phải chìu theo.

Tình cảm của Đức Thịnh và Lượm ngày càng khắng khít. Cô Ba Dần theo lời ông Hai Tất đến nhà bà Hạnh Hòa hỏi cưới Lượm. Bà từ chối, làm ông Hai đùng đùng nổi giận, giữa đám đông, ông lớn tiếng chỉ trích bà là người mẹ nhẫn tâm, ích kỷ, chỉ biết nghĩ cho bản thân mà không biết nghĩ cho hạnh phúc của con mình. Bị mắng, nghe ông phân tích, bà Hạnh Hòa bừng tỉnh ngộ, phần  nhận thấy xuất thân Đức Thịnh cũng môn đăng hộ đối với mình, bà đồng ý cuộc hôn nhân.

Ngày hôn lễ càng đến gần, Niễng càng xót xa đau khổ. Anh khóc nhiều đến nổi hai mắt sưng vù. Thân thể gầy còm tiều tụy đến nổi lâm bệnh, phải nằm một chổ. Cô giúp việc vốn đã thầm yêu anh, không thể lặng im để mình anh chịu đựng vội chạy tìm ông Hai Tất báo tin.

Nhỉn thân thể Niễng gày còm, khô héo, ông Hai chỉ muốn tìm Lượm nói tận tường sự thật, nhưng Niễng  quỳ lạy van xin ông đừng nói, bằng không anh sẽ cắn lưởi chết ngay.

Biết không thể thuyết phục nổi quyết tâm sắc đá của Niễng, ông Hai cùng cô bé giúp việc bèn tương kế tựu kế. Trước đám  hỏi  một ngày, ông vờ dắt Lượm đến địa điểm đã hẹn trước với cô bé giúp việc. Trong lúc đó, với nỗi niềm đau đớn sắp mất người thương vĩnh viễn, Niễng kể lại cho cô gái giúp việc nghe những kỷ niệm đẹp cuả mình với Lượm. Không hay, ở ghế đá cạnh bên Lượm nghe không sót một lời.

Nhận ra giọng nói của chồng, Lượm hốt hoảng chạy nhanh đến bên ghế đá. Bây giờ ông Hai Tất mới ngậm ngùi kể lại đầu đuôi câu chuyện cho Lượm nghe.

Nghe xong, Lượm bật òa khóc lớn. Bất kể có ông hai Tất đứng đó, cô ôm chầm lấy Niễng.

Không cần suy tư chọn lựa, Lượm quyết định từ hôn với Đức Thịnh để trở về với Niễng. Bởi chỉ mới đám hỏi, nhưng trong thâm tâm, trong đáy lòng cô, Niễng đã là người chồng mà cô yêu thương nhất trên đời.

Đức Thịnh tuy có buồn, nhưng cảm động và cảm phục lòng thủy chung, cao thượng của Niễng và Lượm, anh đồng ý rút lui, chấp nhận đứng bên lề chúc phúc cho hai người bạn,.

Bà Hạnh Hòa nghe được tin này,nghe đất trời như sụp dưới chân. Ông Hai Tất có nói thề nào bà cũng không chấp nhận Niễng là con rể của mình. Đến mức này, hiền ngoan như Lượm cũng  phải lên tiếng bảo vệ mình. Cô nói : nếu bà không đồng ý gã cô cho Niễng, cô sẽ bỏ nhà đi, sẽ trở về quê sống với ông Hai Tất như những ngày xưa nghèo khổ.

Trước quyết tâm sắc đá của mọi người, bà đành phải đồng ý.

Đồng ý ngoài môi, nhưng trong bụng bà lại suy tính khác. Nổi ích kỷ của một người mẹ đã khiến bà đi đến một quyết định vô cùng độc ác. Thuê xã hội đen giết Niễng – bà cũng đến bước đường cùng.

Câu chuyện tình cờ lọt vô tai cô bé  giúp việc. Hoảng sợ, cô  cấp tốc tìm đến kể cho ông Hai Tất và Lượm biết.  Nhờ vậy, mà hai người kịp thời cứu Niễng khỏi ngọn dao oan nghiệt của tên sát thủ.

Trực tiếp nghe từ miệng hắn khai đã nhận lệnh từ mẹ mình đi giết người, Lượm vô cùng thất vọng. Không tố cáo bà ra trước pháp luật, nhưng cô quyết không tha thứ cho bà. Từ bỏ tất cả, cô về quê chung sống cùng ông Hai Tất như xưa. Ông Hai cũng đồng ý với quyết định của cô. 

Những tháng ngày lặng lẽ một mình giửa  căn biệt thự  rộng thênh thang, gặm nhắm nổi cô đơn. Khi cơn bệnh ập về, một mình trong bệnh viện không người thân  chăm sóc. Bà mới biết mình đã sai lầm khi chọn sự hào nhoáng bên ngoài thay cho giá trị bên trong của một con người. Đứa con gái bị chính bà bỏ rơi đã dạy cho bà biết thế nào là lòng chung thủy của tình yêu, sự biết ơn và đạo lý làm người.

Năm xưa, bà đã chọn Duy Minh chỉ vỉ gã đẹp trai, giàu có dù người bà thật sự yêu là ông Hai Tất. Bà cũng vì gã Sỡ khanh đó mà đành đoạn đem bỏ đứa con. Bà cũng đã chọn gia tài mà li dị cùng Tấn Phát... Bà đã làm mọi cách để được giàu sang, danh vọng. Nhưng tất cả những thứ đó giờ đây có giá trị gì, liệu bà có đem theo được khi chết đi?

Thật tâm hối hận, bà về quê xin lỗi và cầu xin mọi người tha thứ cho mình. Nhưng ông Hai đã quá thất vọng về con người bà nên đã mất niềm tin. Không riêng gì Lượm mà bà Mười Một – cùng những ai biết rõ câu chuyện đều cảm thấy ghê sợ và tránh xa bà như một loại dịch bệnh

Không nản chí, bà nói mình sẽ chứng minh cho mọi người nhìn thấy sự thật tâm hối cải của mình.

Trở về thành phố, bà tìm đến nhà Tấn Phát.  Tấn Phát lúc này dù cuộc sống không giàu có, nhưng bên cạnh  hai đứa con xinh đẹp tựa thiên thần, bên người vợ dịu dàng thùy mỵ, ông cảm thấy mình hạnh phúc hơn bao giờ.

Bằng lời lẻ chân thành và hối cải, bà đến xin lỗi cả nhà, rồi ân cần trao trả toàn bộ số gia tài mình đã cướp từ tay họ. Giử lại một ít, bà về Vĩnh Trạch mua một mảnh vườn nho nhỏ rồi cất lên một căn nhà đơn sơ. Bà quyết định trở về mãnh đất chôn nhau cắt rốn để sống trọn quảng đời còn lại.

Nhìn mẹ ngày ngày vất vã tìm cách sinh nhai, Lượm nghe thương lắm. Cô đã không còn giận mẹ từ khi bước chân trở về vùng quê yên tỉnh này rồi. Nhưng sợ làm ông Hai giận, cô chỉ biết lén nhìn mẹ rồi quay đi gạt nước mắt khóc thầm.

Giận thấu xương nhưng tận cùng tâm khảm, ông Hai Tất vẫn không quên được tình yêu của mình đối với bà. Nên chiều chiều vẫn sang nhà bà. Không lén chẻ giúp bà đống củi, dọn  mớ cỏ trong vườn, thì ông cũng lén bỏ vào khạp bà vài con cá.

Được người giúp đở hoài, bà Hạnh Hòa cảm thấy nghi ngờ. Một hôm, bà vờ ra chợ rồi bất thình lình quay trở lại. Bị bắt quả tang, ông Hai hết đường chối cải. Với sự nói vô của Lượm và Niễng. Ông hai lấy hết dũng khí trong lòng, cầu hôn bà. Dĩ nhiên là bà đồng ý.

Trăng lên cao, xuống thấp rồi tàn. Bình minh dần ló dạng. Một ngày mới ở miền quê không thật ồn ào. Những con người tay lấm chân bùn, không biết bon chen, gian dối. Họ sống với nhau bằng sự thật thà, bằng lòng thủy chung nhân hậu, bao dung như mãnh đất mẹ vốn có tự ngàn xưa. Và cảm thấy lòng thanh thản biết bao nhiêu

Bức tranh làng quê Vĩnh Trạch thêm lung linh sắc màu.  Yêu biết bao người đã giữ hồn quê.